Vận dụng tư tưởng “Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh” của Phan Châu Trinh trong xây dựng, phát triển huyện

Phú Ninh ngày nay thuộc huyện Hà Đông xưa. Là niềm tự hào khi sinh ra người con ưu tú Phan Châu Trinh, với tư tưởng “Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh” đã có nhiều đóng góp cho lịch sử dân tộc những năm đầu thế kỷ XX. Hơn 100 năm trôi qua, nhưng tư tưởng của ông vẫn mang tính thời sự sâu sắc; nhất là trong công cuộc xây dựng và phát triển huyện hôm nay.

Tư tưởng “Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh”

Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam, triều nhà Nguyễn từng bước đầu hàng và dâng nước ta cho thực dân Pháp. Nỗi đau mất nước và chứng kiến các phong trào đấu tranh của Nhân dân ta liên tục bị thất bại. Nhiều sỹ phu yêu nước lúc bấy giờ bằng con đường khác nhau đều muốn tìm ra con đường cứu nước, cứu dân. Và hành trình lịch sử đó, ghi lại dấu ấn của phong trào Duy Tân, do Phan Châu Trinh- người con của làng Tây Lộc, xã Tam Lộc, huyện Phú Ninh khởi xướng và lãnh đạo. 

Khi còn làm quan ở bộ Lễ, thay vì sống an bài, hưởng thụ vinh hoa phú quý của vị quan triều Nguyễn, Phan Châu Trinh luôn đau đáu trước cảnh mất nước, người dân sống trong cảnh lầm than, nên chỉ 01 năm sau khi nhận chức, ông đã từ quan. Ông đã tìm đọc “Tân thư”, các tác phẩm nổi tiếng. Và từ đây, hình thành trong Phan Châu Trinh một ý thức hệ mới về tư tưởng dân quyền và dân chủ. Ông sớm nhận ra Việt Nam thua Pháp cả một nền văn minh. Vì vậy, muốn khôi phục nền độc lập, không chỉ mỗi biện pháp bạo động đánh thực dân Pháp, mà cần học hỏi phương Tây để duy tân tự cường dân tộc, đó cũng là một phương sách cứu nước.

Để thực hiện khát vọng của mình, ông cùng với hai người bạn là Trần Quý Cáp và Huỳnh Thúc Kháng đã vận động thực hiện phong trào Duy Tân. Với tư tưởng “Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh”; đây là 03 vấn đề có mối quan hệ biện chứng với nhau, trong đó: “Khai dân trí”: bỏ lối học cũ theo hệ phong kiến đương thời, chủ trương mở trường dạy chữ quốc ngữ và kiến thức khoa học để áp dụng vào cuộc sống, bài trừ các thủ tục lạc hậu, kìm hãm sự phát triển. “Chấn dân khí”: thức tỉnh tinh thần tự lực, tự cường, mọi người đều giác ngộ được quyền lợi của mình, giải thoát được nọc độc chuyên chế. “Hậu dân sinh”: phát triển kinh tế, cho dân khai hoang làm vườn, lập hội buôn, sản xuất hàng nội hóa…

Trong 03 vấn đề nêu trên, thì chủ trương “Khai dân trí” được đặt lên hàng đầu. Điều đó cho thấy, đổi mới giáo dục có ý nghĩa quyết định đến việc khai sáng dân trí, thay đổi vận mệnh dân tộc. Ông chủ trương đoạn tuyệt với một nền giáo dục chạy theo hư vị, hư danh, học không phải để làm quan, để hưởng vinh hoa phú quý. Phải thực học, thực tài, đem sự học ra để giúp dân, cứu nước. Và chính từ nền giáo dục này, đào tạo ra những thế hệ đem tài trí của mình đấu tranh khôi phục sự thua kém của nước ta so với các nước văn minh phát triển, tiến hành cách tân đất nước để giành lại độc lập tự do. Để tư tưởng “Khai dân trí” lan rộng trong các tầng lớp Nhân dân, ông cùng với hai người bạn của mình tích cực diễn thuyết, truyền bá tư tưởng của phong trào Duy Tân; vận động sáng lập ra trường học ở nhiều nơi, tiêu biểu như Đông Kinh Nghĩa Thục (Hà Nội), Dục Thanh (Phan Thiết)… 

Không chỉ dừng lại ở cải cách, đổi mới giáo dục, tư tưởng của ông còn thức tỉnh nhân dân trên lĩnh vực văn hóa, kinh tế, trang bị cho họ cái nhìn mới về thời cuộc. Vận động nhân dân quyên góp tiền mở lớp học, lập hội buôn, bỏ nạn cờ bạc, thuốc phiện, giảm bớt nghi thức cưới xin, ma chay… Chính điều này, đã khẳng định Phan Châu Trinh là người đầu tiên đi tìm và tìm ra nguyên nhân mất nước ở trong văn hóa, trong sự thua kém về văn hóa. Chúng ta buộc phải lựa chọn: tồn tại và phát triển; hay suy vong và mãi mãi chịu nô lệ. Ông chủ trương phải canh tân đất nước trên các lĩnh vực để nâng tầm dân tộc mình ngang bằng đối thủ. Cuộc canh tân đó, ông gọi là khai dân trí, để từ đó mới chấn hưng được dân khí. Và đi đến làm cho đất nước phồn vinh, hạnh phúc (tức là “hậu dân sinh”). Theo ông, nếu đất nước đã giành được độc lập, nhưng dân trí vẫn lạc hậu, mê muội thì độc lập đó không có ý nghĩa gì và không thể vững chắc…

Tư tưởng canh tân của Phan Châu Trinh ở các lĩnh vực nói trên đã tác động sâu sắc đến thời cuộc lúc bấy giờ; lan rộng các tỉnh Bắc, Trung Kỳ, ảnh hưởng trực tiếp đến mọi mặt đời sống của nhân dân. 

Vận dụng tư tưởng “Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh” trong xây dựng, phát triển huyện

Để vận dụng tư tưởng của Phan Châu Trinh vào thực tiễn, cần xác định rõ vai trò, nhiệm vụ của mỗi ngành, cơ quan, đơn vị trong việc cụ thể hóa tư tưởng "Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh". 

Trước hết, đối với vấn đề "Khai dân trí", ngành giáo dục huyện cần nghiên cứu, vận dụng tư tưởng của Phan Châu Trinh vào việc dạy và học. Thực hiện nghiêm túc chủ trương đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, xây dựng phong trào khuyến học, khuyến tài, xã hội học tập; tạo chuyển biến mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả, thực dạy, thực học, thực tài; nói không với bệnh thành tích trong giáo dục. Đào tạo nguồn nhân lực theo nhu cầu của xã hội.

Tăng cường công tác tuyên truyền giáo dục truyền thống văn hóa, lịch sử địa phương trong các trường học. Tăng thời lượng tích hợp các nội dung giáo dục truyền thống văn hóa, lịch sử địa phương vào các giờ dạy chính khóa; nhất là ở các môn học ở các cấp học, như: Tiếng Việt, Khoa học, Lịch sử, Địa lý, Đạo đức, Giáo dục công dân... để tuyên truyền cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng, những cống hiến của cụ Phan đối với quê hương, đất nước; gắn với di tích, nhân vật, sự kiện của địa phương nơi các trường đứng chân vào quá trình giảng dạy.

Đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền, ngoài hình thức chính khóa, tăng cường các hoạt động ngoại khóa, ngoài giờ lên lớp: tổ chức hội trại truyền thống, Lễ kết nạp đoàn viên (đội viên) gắn với hoạt động chăm sóc, thuyết trình về di tích lịch sử- văn hóa tại địa phương. Tổ chức các cuộc thi, hội thi "Rung chuông vàng”, "Chúng em kể chuyện về Bác”, thuyết trình giới thiệu về truyền thống văn hóa, lịch sử, viết nhật ký làm theo Bác... Vận động cán bộ, viên chức, học sinh tích cực tham gia cuộc thi tìm hiểu về thân thế, sự nghiệp, tư tưởng Phan Châu Trinh; tìm hiểu lịch sử Đảng bộ địa phương qua các thời kỳ; về hệ thống di tích lịch sử, văn hóa trên địa bàn; về nhân vật, sự kiện lịch sử tiêu biểu của huyện.

Thứ hai, để thực hiện "Chấn dân khí", cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận và các tổ chức chính trị- xã hội từ huyện đến cơ sở cần tăng cường lãnh đạo công tác giáo dục truyền thống văn hóa, lịch sử địa phương cho cán bộ, đảng viên, hội viên, đoàn viên và các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ. Tổ chức tuyên truyền sâu rộng về cuộc đời, sự nghiệp và hệ tư tưởng "Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh" của cụ Phan gắn với các hoạt động phát triển kinh tế- xã hội, nâng chất lượng giáo dục, khuyến học, khuyến tài, thực hiện tốt công tác an sinh xã hội của địa phương. Qua đó, giáo dục, bồi đắp truyền thống yêu nước, khơi dậy ý chí, khát vọng đóng góp sức lực, trí tuệ của cả hệ thống chính trị và toàn dân trong công cuộc xây dựng và phát triển huyện. 

Đồng thời, cần nghiên cứu, vận dụng tư tưởng "Chấn dân khí" vào công tác chính trị, tư tưởng của Đảng bộ huyện. Khơi dậy khát vọng, ý chí trong mỗi tổ chức Đảng và cá nhân chung tay xây dựng huyện ngày càng phát triển vững mạnh. Trước mắt, nâng chất lượng giảng dạy các lớp bồi dưỡng lý luận chính trị; phát huy vai trò, hiệu quả của công tác tuyên truyền miệng. Triển khai đồng bộ các giải pháp về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Thực hiện có hiệu quả việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với Nghị quyết Trung ương 4 khóa XIII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, tự soi, tự sửa.

Thứ ba, về vấn đề "Hậu dân sinh", các ngành thuộc khối chính quyền cần nghiên cứu, vận dụng tư tưởng của Phan Châu Trinh trong thực hiện các giải pháp phát triển kinh tế- xã hội; nhất là trong việc nâng chất lượng tiêu chí nông thôn mới, hướng đến xây dựng thành công huyện nông thôn mới nâng cao và kiểu mẫu. Thực hiện kịp thời các chính sách an sinh xã hội, nhất là gia đình chính sách, người có công cách mạng...

Mặt trận và các tổ chức chính trị- xã hội huyện duy trì và phát huy hiệu quả các mô hình vì cộng đồng, chung tay cùng Đảng bộ huyện trong phát triển kinh tế- xã hội, chăm lo đời sống cho Nhân dân. Tích cực phối hợp các ngành liên quan tổ chức các hoạt động về nguồn, nói chuyện, tìm hiểu về truyền thống văn hóa, lịch sử. 

Đảng ủy các xã, thị trấn cần tuyên truyền, nghiên cứu, vận dụng và triển khai thực hiện có hiệu quả tư tưởng của Phan Châu Trinh; nhất là đề ra các giải pháp nâng chất lượng sinh hoạt chi bộ, giáo dục chính trị tư tưởng đối với đảng viên, đặc biệt là đảng viên trẻ; các giải pháp phát triển kinh tế- xã hội và trong thực hiện các chính sách an sinh xã hội, không ngừng nâng chất lượng đời sống của Nhân dân. 

Lịch sử dân tộc đã bước sang một trang mới, nhưng tư tưởng của Phan Châu Trinh vẫn mang tính thời sự sâu sắc, có giá trị đối với hiện tại, nhất là trong công cuộc xây dựng và phát triển huyện hôm nay. Để thực hiện thành công tư tưởng của Phan Châu Trinh rất cần sự quan tâm lãnh chỉ đạo của cấp ủy Đảng, chính quyền; sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị; đồng lòng, quyết tâm của toàn dân huyện Phú Ninh.

                                                                                     

Tin liên quan