THƯƠNG BINH KỂ CHUYỆN LÀM NỘI TUYẾN

Bắt đầu câu chuyện làm nội tuyến, thương binh Võ Tấn Đạt, xã Tam Thái kể lại chuyện hơn nửa thế kỷ trước một cách mạch lạc như việc mới diễn ra hôm qua.

Làm cơ sở cách mạng trước khi làm nội tuyến

Võ Tấn Đạt tuổi Nhâm Ngọ, sinh năm 1942 trong một gia đình có truyền thống cách mạng, cha và ông nội là những người am hiểu nho học, biết nhiều chuyện về Đông-Tây kim cổ. Nhờ ảnh hưởng lớn từ gia đình, vào những năm đầu thập kỷ 60 khi Tấn Đạt còn là cậu học sinh, đã được Nguyễn Yến trong Ban binh vận giao nhiệm vụ làm cơ sở cách mạng, theo dõi tình hình địch và cung cấp thông tin cho cách mạng. Hoạt động cơ sở của Đạt càng ngày được Nguyễn Yến tin tưởng, bởi nguồn tin và tài liệu Đạt cung cấp cho cơ sở từ Kỳ Thọ đến nội ô Tam Kỳ và ngược lại khá chính xác, cũng như truyền đơn được Đạt bí mật tuôn ra những nơi cần thiết đúng lúc mà không bị bại lộ. Khi Mỹ ngụy kết thúc cuộc chiến tranh đặc biệt kém hiệu quả, chuyển sang chiến tranh cục bộ với mức độ ác liệt hơn; các chiến dịch Tìm-Diệt, Phượng Hoàng của địch ngày càng hung hăng, địch tập trung săn lùng cách mạng nằm vùng, truy bắt các gia đình và đối tượng tình nghi "cộng sản"; mặt khác chúng dùng máy bay, xe tăng, xe bọc thép và các phương tiện chiến tranh hiện đại khác càn quét ra vùng giải phóng gây cho cách mạng và Nhân dân nhiều mất mát hy sinh, nhiều cơ sở cách mạng của ta có nguy cơ bị bể vỡ, đúng như nhận định của cách mạng. Nguyễn Yến cũng từng căn dặn Võ Tấn Đạt phải bình tĩnh, dũng cảm và mưu trí trong mọi tình huống để đối phó với địch, bởi chúng ngày càng sử dụng nhiều thủ đoạn tinh vi hơn để mưu sát chúng ta. Trước tình thế địch áp đảo cách mạng trên mọi phương diện, Đạt và Yến đã nghĩ ra nhiều phương án khác nhau trong đó có phương án cài cán bộ vào hàng ngũ địch để làm nội tuyến và tốt hơn có thể làm binh biến ngay trong hàng ngũ địch, tạo lợi thế hơn cho cách mạng, nhưng đây là phương án khó khăn và nguy hiểm nhất nếu như bị bại lộ. Vào một ngày cuối thu năm 1967 nữ tình báo địch tên T sau thời gian theo dõi gia đình Đạt, y dẫn quân báo tiểu đoàn 2/6 ngụy đóng ở Rừng Xanh lên bắt cha con Đạt xuống đồn tra hỏi về mối quan hệ với một số cán bộ, gia đình có người thân "cộng sản"; vụ việc cộng sản tập kích vào "quân đội Việt Nam cộng hòa" tại đồi cốc bà Tỏ trước đó, có những ai tham gia, đơn vị nào? v.v... Nhưng với tài ứng xử thông minh, bình tĩnh của cha con Đạt, địch không có cơ sở nào buộc tội, bằng giao cho ngụy quyền xã mà trực tiếp là chủ tịch xã Kỳ Nghĩa khai thác cha con Đạt. Hai ngày cha con Đạt tách rời nhau ở trong 2 nhà dân khác nhau tại xóm Chợ Lò, khi thì chủ tịch Nghĩa mềm mỏng bằng những ngôn từ hoa mỹ, mật ngọt để dỗ dành, lúc thì hù dọa, tuyên bố bắn bỏ... Nhưng với tinh thần và ý chí đã được xác định trước, cha con Đạt một lòng trung thành với cách mạng và không một lời khai báo với địch. Cuối cùng xã trưởng Nghĩa tuyên bố thả cha Đạt về, còn Đạt giao cho C là trung trưởng nghĩa quân, đưa Đạt về bàn giao cho Phòng nhì tại Tiểu khu Quảng Tín. Nhưng sau đó C trao đổi lại với chủ tịch Nghĩa những gì không rõ và bảo lãnh cho Đạt ở lại địa phương tiếp tục theo dõi. Nhờ mối quan hệ gia đình, xóm làng, đồng hương, Đạt nhanh chóng chiếm được "cảm tình" với C và chỉ một thời gian ngắn được C gọi Đạt về xã, vận động làm thủ tục gia nhập lính nghĩa quân. Nhớ lại phương án Yến đã bàn, Đạt vui vẻ nhận lời và nhanh chóng trở thành nghĩa quân sau lớp huấn luyện ngắn hạn.

Công tác nội tuyến đã rõ nhưng binh biến chưa thành

Theo Võ Tấn Đạt, khi đứng vào hàng ngũ nghĩa quân nhiều lần mang cả súng đạn về Gò Trâm để bí mật bàn thảo cùng Yến về công tác nội tuyến và được Yến dặn dò hết sức thận trọng từ lời nói đến hành động, nếu không, dễ trở thành con mồi cho bọn chúng, bởi trước đây cha con Đạt đã có sự theo dõi của tình báo địch. Để đánh lừa, bản thân Đạt cố thể hiện sự chấp hành quân lệnh, nhất là giờ giấc canh gác, mặt khác tạo sự thân thiện với "chỉ huy và đồng đội" nhưng trong lòng vẫn nóng ran chuyện hành quân, truy quét ra vùng giải phóng gây bao đau thương cho đồng bào đồng chí!. Có những lúc nhận lệnh hành quân càn quét muộn, phải tìm mọi cách thông tin cho cha để kịp báo cho cơ sở mật chuyển tin cho Yến; những lúc như thế Đạt cố trấn tĩnh để thấy thái độ chấp hành chỉ huy và dấu kín nổi lo âu trong lòng. Quá trình làm nội tuyến Đạt nhiều lần cung cấp thông tin về cho đội công tác chính xác và cũng nhận được thông tin chỉ đạo từ Yến hết sức kịp thời thông qua người cha của mình. Có lần thông qua cha, Đạt về Gò Trâm bí mật gặp Yến và được dặn dò thêm phải hết sức thận trọng. Cấp trên bảo một số nơi trên địa bàn tỉnh, công tác nội tuyến và binh biến đã nổ ra và địch đang tập trung theo dõi sát sao, mạng lưới tình báo, quân báo tăng cường dày đặc. Nếu có di biến động, Yến sẽ có thông tin và Đạt tìm cách thoát ra vùng giải phóng ngay lập tức. Nhưng theo kịch bản nào? nếu tự nhiên mang súng ra vùng giải phóng thì dễ, nhưng còn cha mẹ, ông bà, vợ con chúng sẽ đàn áp dã man hơn. Bàn tới tính lui, Yến quyết định nếu ra vùng giải phóng thì "hiệp đồng tạo cớ". Khi biết chắc chắn thời gian và địa điểm đơn vị trú quân phải báo cho Yến, và nhắc nhớ rằng khi đội công tác phát hỏa Đạt phải tìm cách trú ẩn chờ quân ta đến, nhanh chóng ra mật khẩu theo quy định. Một thời gian sau, xét thấy tình thế không tốt, dễ bại lộ, cấp trên thống nhất cho Yến phải đưa Đạt ra vùng giải phóng an toàn. Những đêm cuối đông năm 1967, thời tiết mưa lạnh, tiểu đội Đạt dưới sự chỉ huy của C thường cơ động và trú ẩn quanh xóm chùa, cách Hội đồng xã Kỳ Nghĩa chừng 500m về hướng Đông-Bắc. Nắm quy luật này Đạt bắn tin cho cha và được Yến sắp xếp phương án như đã định. Khi nhận tín hiệu từ cha cũng là lúc Đạt bồn chồn lo lắng chờ đợi giờ G gặp gỡ anh em trong đội công tác. Đêm ấy bỗng dưng cơn mưa bắt đầu nặng hạt, cũng là lúc quân ta phát hỏa, lựu đạn nổ chát chúa kèm theo tiếng hô xung phong của quân ta vang lên dồn dập; cả tiểu đội nghĩa quân thoát chạy thục mạng, riêng Đạt chờ đồng đội đến, ra mật khẩu và được đưa đi. Để lừa địch, khi đi ngang một nhà dân, đồng đội giả vờ trói 2 tay Đạt để dân thấy Đạt bị cộng sản bắt. Kịch bản hoàn hảo và chớp nhoáng trong vòng chưa đầy 30 phút, đội công tác phối hợp bộ đội chủ lực đã đưa Đạt ra vùng giải phóng an toàn, bỏ lại phía sau những tiếng pháo nổ đì đùng của địch.

image002 copy copy copy copy copy

Ông Võ Tấn Đạt – Thương binh 2/4.

Mặc dù công tác binh biến chưa thành, nhưng trong thời gian ngắn Đạt cũng đủ cho nội bộ địch hoang man lo lắng và bỏ lửng câu hỏi "nó bị bắt hay theo cộng sản?". Còn Đạt tiếp tục nhận nhiệm vụ ở Ban Binh vận tỉnh, công tác ở Trà My và thường xuyên được cử đi công tác về Kỳ Sơn, Kỳ Quế, Kỳ Thọ thuộc Bắc Tam Kỳ. Có những lúc trên đường công tác, Đạt chứng kiến đồng đội, trong đó có cả quân chủ lực hy sinh hết sức đau lòng sau những trận máy bay Mỹ quần lộn bắn xối xã vào đội hình. Những lần vượt sông Trường bị lũ cuốn, những lúc gặp nguy như trận đánh ở Chùa Cháy, Long Sơn và cả những lần lấy dây bìm bìm phủ lấp thân mình ngụy trang tránh "tàu rọ" trên đường công tác... tất cả đều thoát hiểm. Đạt nói vui, "tưởng mình mạng mộc gắn với núi rừng Trường Sơn không sao, nhưng rồi cũng không tránh khỏi, sau trận "Mỹ lết" bất ngờ năm 1972 mình phải để lại cho Trường Sơn 1 chân phải". Đầu năm 1973 được tổ chức đưa ra miền Bắc tiếp tục chữa bệnh và học tập văn hóa. Khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, năm 1976 trở về công tác tại Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng đến năm 1980 xin nghỉ mất sức và hiện nay hưởng chế độ thương binh 2/4.

Khi nói về chiến tranh và đồng đội, Đạt tự dưng khựng lại như cố lảng đi những cảm xúc đau lòng! Đạt chỉ nói khẽ, không biết còn bao nhiêu đồng chí, đồng đội hy sinh ở Trường Sơn chưa về nghĩa trang và không biết đồng bào, đồng chí mình còn ai chưa được vinh danh vì sự cống hiến thầm lặng cho 2 cuộc kháng chiến trường kỳ. Về phần mình, Võ Tấn Đạt thấy rằng Đảng, Nhà nước và Nhân dân đã quan tâm thực hiện tốt chính sách khi về với cuộc sống đời thường./.

Trương Thành 

Phuninh.gov.vn
Phú Ninh Đất và Người