CHUNG TAY CHỐNG BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TẠI VIỆT NAM

Hậu quả của biến đổi khí hậu (BĐKH) đã ảnh hưởng rất lớn đến nước ta, tiêu biểu là hiện tượng thời tiết thất thường, lũ lụt, sạt lở, hệ sinh thái bị phá huỷ vv…

Theo nghiên cứu, Việt Nam là một trong nước chịu ảnh hưởng của quá trình biến đổi khí hậu nặng nề nhất hiện nay. Vậy biến đổi khí hậu là gì ?, biến đổi khí hậu tác động đến nước ta như thế nào ?, và làm sao để cùng chung tay ngăn chặn biến đổi khí hậu tại Việt Nam?.

biến đổi khí hậu

BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU LÀ GÌ ?

Theo Wiki biến đổi khí hậu Trái Đất là sự thay đổi của hệ thống khí hậu gồm khí quyển, thuỷ quyển, sinh quyển, thạch quyển hiện tại và trong tương lai bởi các nguyên nhân tự nhiên và nhân tạo trong một giai đoạn nhất định từ tính bằng thập kỷ hay hàng triệu năm. Sự biển đổi có thế là thay đổi thời tiết bình quân hay thay đổi sự phân bố các sự kiện thời tiết quanh một mức trung bình. Sự biến đổi khí hậu có thế giới hạn trong một vùng nhất định hay có thế xuất hiện trên toàn Địa Cầu.

Trong vòng 1.000 năm qua, nhiệt độ bề mặt Trái đất có tăng, giảm không đáng kể và có thể nói là ổn định. Thế nhưng, trong vòng 200 năm trở lại đây, đặc biệt là trong mấy chục năm vừa qua khi công nghiệp hoá phát triển, nhân loại bắt đầu khai thác than đá, dầu lửa, sử dụng các nhiên liệu hoá thạch… Cùng với các hoạt động công nghiệp tăng lên, nhân loại bắt đầu thải vào bầu khí quyển một lượng khí CO2, nitơ ôxít, mêtan… khiến cho nhiệt độ bề mặt Trái đất nóng lên.

Hầu hết giới khoa học đều công nhận biến đổi khí hậu là do nồng độ của khí hiệu ứng nhà kính tăng lên trong khí quyển ở mức độ cao. Bản thân nó đã làm cho Trái đất ấm lên, nhiệt độ bề mặt Trái đất nóng lên, nhiệt độ nóng lên này đã tạo ra các biến đổi trong các vấn đề thời tiết hiện nay.

Theo báo cáo mới nhất của Liên hiệp quốc, nguyên nhân của hiện tượng biến đổi khí hậu 90% do con người gây ra, 10% là do tự nhiên.

TÁC HẠI CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

1. Hệ sinh thái bị phá hủy

Biến đổi khí hậu và lượng cacbon dioxite ngày càng tăng cao đang thử thách các hệ sinh thái của chúng ta. Các hậu quả như thiếu hụt nguồn nước ngọt, không khí bị ô nhiễm nặng, năng lượng và nhiên liệu khan hiếm, và các vấn đề y tế liên quan khác không chỉ ảnh hưởng đến đời sống của chúng ta mà còn là vấn đề sinh tồn.

2. Mất đa dạng sinh học

Nhiệt độ trái đất hiện nay đang làm cho các loài sinh vật biến mất hoặc có nguy cơ tuyệt chủng. Khoảng 50% các loài động thực vật sẽ đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng vào năm 2050 nếu nhiệt độ trái đất tăng thêm từ 1,1 đến 6,4 độ C nữa. Sự mất mát này là do mất môi trường sống vì đất bị hoang hóa, do nạn phá rừng và do nước biển ấm lên. Các nhà sinh vật học nhận thấy đã có một số loài động vật di cư đến vùng cực để tìm môi trường sống có nhiệt độ phù hợp. Ví dụ như là loài cáo đỏ, trước đây chúng thường sống ở Bắc Mỹ thì nay đã chuyển lên vùng Bắc cực.

Con người cũng không nằm ngoài tầm ảnh hưởng. Tình trạng đất hoang hóa và mực nước biển đang dâng lên cũng đe dọa đến nơi cư trú của chúng ta. Và khi cây cỏ và động vật bị mất đi cũng đồng nghĩa với việc nguồn lương thực, nhiên liệu và thu nhập của chúng ta cũng mất đi.

3. Dịch bệnh

Nhiệt độ tăng cùng với lũ lụt và hạn hán đã tạo điều kiện thuận lợi cho các con vật truyền nhiễm như muỗi, ve, chuột,… sinh sôi nảy nở, truyền nhiễm bệnh gây nguy hại đến sức khỏe của nhiều bộ phận dân số trên thế giới.

Tổ chức WHO đưa ra báo cáo rằng các dịch bệnh nguy hiểm đang lan tràn ở nhiều nơi trên thế giới hơn bao giờ hết. Những vùng trước kia có khí hậu lạnh giờ đây cũng xuất hiện các loại bệnh nhiệt đới.

Hàng năm có khoảng 150 ngàn người chết do các bệnh có liên quan đến biến đổi khí hậu, từ bệnh tim do nhiệt độ tăng quá cao, đến các vấn đề hô hấp và tiêu chảy.

4. Hạn hán

Trong khi một số nơi trên thế giới chìm ngập trong lũ lụt triền miên thì một số nơi khác lại hứng chịu những đợt hạn hán khốc liệt kéo dài. Hạn hán làm cạn kiệt nguồn nước sinh hoạt và tưới tiêu, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền nông nghiệp của nhiều nước. Hậu quả là sản lượng và nguồn cung cấp lương thực bị đe dọa, một lượng lớn dân số trên trái đất đang và sẽ chịu cảnh đói khát.

Hiện tại, các vùng như Ấn Độ, Pakistan, và Châu Phi đang hứng chịu những đợt hạn hán, lượng mưa ở các khu vực này ngày càng thấp, và tình trạng này còn tiếp tục kéo dài trong vài thập kỷ tới. Theo ước tính, đến năm 2020, sẽ có khoảng 75 triệu đến 250 triệu người dân châu Phi thiếu nguồn nước sinh hoạt và canh tác, dẫn đến sản lượng nông nghiệp của lục địa này sẽ giảm khoảng 50%.

5. Bão lụt

Nhiệt độ nước ở các biển và đại dương ấm lên là nhân tố tiếp thêm sức mạnh cho các cơn bão. Những cơn bão khốc liệt đang ngày một nhiều hơn. Trong vòng chỉ 30 năm qua, số lượng những cơn giông bão cấp độ mạnh đã tăng gần gấp đôi.

6. Những đợt nắng nóng gay gắt

Các đợt nắng nóng khủng khiếp đang diễn ra thường xuyên hơn gấp khoảng 4 lần so với trước đây, và dự đoán trong vòng 40 năm tới, mức độ thường xuyên của chúng sẽ gấp 100 lần so với hiện nay. Hậu quả của các đợt nóng này là nguy cơ cháy rừng, các bệnh tật do nhiệt độ cao gây ra, và tất nhiên là đóng góp vào việc làm tăng nhiệt độ trung bình của trái đất.

7. Mực nước biển đang dâng lên

Nhiệt độ ngày càng cao trên trái đất khiến mực nước biển đang dần dâng lên. Nhiệt độ tăng làm các sông băng, biển băng hay lục địa băng trên trái đất tan chảy và làm tăng lượng nước đổ vào các biển và đại dương.

Các nhà khoa học đã tiến hành quan sát, đo đạc và nhận thấy rằng băng ở đảo băng Greenland đã mất đi một số lượng lớn, gây ảnh hưởng trực tiếp đến các đảo quốc hay các quốc gia nằm ven biển. Theo ước tính, nếu băng tiếp tục tan thì nước biển sẽ dâng thêm ít nhất 6m nữa vào năm 2100. Với mức này, phần lớn các đảo của Indonesia, và nhiều thành phố ven biển khác sẽ hoàn toàn biến mất.

 CHUNG TAY CHỐNG BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

Chúng ta có thể góp phần ngăn chặn biến đổi khí hậu bằng những hành động đơn giản hằng ngày như sau:

– Điều chỉnh bộ ổn nhiệt hoặc điều hoà lên 1,50C tiết kiệm khoảng 1 tấn CO2 một năm.

– Sử dụng tủ lạnh tiết kiệm năng lượng có thể tiết kiệm được gần 1 nửa tấn CO2 mỗi năm so với sử dụng tủ lạnh thông thường.

– Sử dụng cửa sổ, cửa ra vào loại cách nhiệt và làm thêm phần cách nhiệt vào gác mái và tầng hầm, nền sẽ làm giảm việc tiêu thụ năng lượng.

– Sử dụng bóng đèn huỳnh quang compact dạng xoắn hiệu quả tiết kiệm hơn 75% so với bóng đèn thắp sáng thông thường

– Tiết kiệm năng lượng trên đường đi

Đi bộ, đi xe đạp, sử dụng xe dùng chung hoặc các phương tiện giao thông công cộng- tất cả các loại hình này đều phát thải ít hơn khi mỗi chúng ta đều sử dụng xe ôtô cá nhân.

Chọn các loại xe ôtô tiết kiệm nhiên liệu hiện có, như kiểu xe kết hợp điện – xăng, và luôn duy tu, bảo dưỡng xe tốt cũng sẽ làm giảm mức phát thải.

Dùng chung xe ôtô và tránh đi quãng đường ngắn bằng xe ôtô nhằm tiết kiệm năng lượng.

Giữ lốp căng nhất khi sử dụng sẽ tiết kiệm nhiên liệu hơn và giảm phát thải.

Lái xe ở tốc độ thấp hơn 5 dặm mỗi giờ so với tốc độ tối thiểu trên quãng đường đi làm hằng ngày dài 8 dặm có thể tiết kiệm 350kg khí CO2 mỗi năm.

– Giảm rác thải nhà bếp

Trung bình mỗi năm một người thải lượng rác cao gấp 10 lần trọng lượng cơ thể mỗi người. 1kg rác đem chôn lấp sản xuất khoảng 2kg khí mêtan. Cách đơn giản nhất để giảm gánh nặng này là bớt việc mua sắm và thải các đồ bao gói không cần thiết.

Tái chế giấy, thuỷ tinh, nhôm, thép và các nguyên liệu khác để giảm các nguyên liệu mới, có thể giúp tiết kiệm năng lượng.

Sử dụng cả 2 mặt giấy và tái chế giấy có thể tiết kiệm 2,5kg khí nhà kính đối với mỗi kg giấy sử dụng.

– Ủng hộ sự thay đổi

Bạn có thể khuyến khích cộng đồng rộng lớn hơn hành động vì sự biến đổi khí hậu.

Ví dụ:

Tại nơi làm việc và trường học: khuyến khích những người cùng làm việc hoặc học sinh, sinh viên chấp nhận chiến lược giảm phát thải.

Tại thôn xóm, làng: Tuyên truyền về tác động của biến đổi khí hậu, thực hiện những hành động thiết thực bảo vệ môi trường sống.

Hợp tác: khuyến khích đánh giá những đóng góp của họ tới ảnh hưởng khí nhà kính và chỉ cho họ những câu chuyện thành công và các bộ công cụ sẵn có.

Tổng hợp

Phuninh.gov.vn
Phú Ninh Đất và Người