Người chiến sĩ V12-Bí thư Huyện ủy Bắc Tam Kỳ năm xưa

Cơn mưa bất chợt giữa mùa hạ. Phía cuối chân trời ẩn hiện bảy sắc cầu vòng- như dấu gạch nối giữa quá khứ và hiện tại. Trân trọng những ngày mưa, để có ánh hào quang của cầu vòng; trân trọng máu- lửa quá khứ, để hiểu được giá trị hòa bình, sống ý nghĩa hơn. Hiện tượng của đất- trời như một chất xúc tác, tác động đến cảm xúc của con người.

Trong ký ức của những lần gặp gỡ nhân chứng để làm tư liệu lịch sử Đảng bộ huyện, vẫn mãi không quên cuộc gặp gỡ cuối cùng của tôi với ông- đồng chí Lương Văn Hận - Anh hùng LLVTND, nguyên Đại đội phó V12- Huyện đội trưởng- Bí thư Huyện ủy Bắc Tam Kỳ, đó là vào một ngày cuối đông năm 2014. Gói trọn cảm xúc từ cuộc gặp gỡ mùa đông năm ấy với nhiều câu hỏi bỏ ngõ. Cho đến hôm nay, cảm xúc ấy lần nữa được khơi dậy, những câu hỏi còn dang dỡ đã tìm thấy trong cuốn Hồi ký về cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của ông, gồm 65 trang A4. Với chất giọng mộc mạc, đậm chất Quảng, lời lẽ rất thật, không trau chuốt, đã tái hiện toàn cảnh bức tranh sống và chiến đấu của người chiến sĩ cộng sản kiên trung của 45 năm về trước.

Nối tiếp dòng máu đỏ cách mạng

Sinh ra và lớn lên ở vùng đất Tam Giang, huyện Núi Thành; là nơi có bề dày truyền thống cách mạng. Gia đình ông nội, cha, chú, cô đều làm cách mạng. Trước Cách mạng tháng 8 năm 1945, nhà ông nội là căn cứ hoạt động cách mạng bí mật của Tỉnh ủy, các đồng chí cách mạng thường xuyên đến đây để trao đổi thông tin liên lạc, móc nối, xây dựng cơ sở; trong số đó, đồng chí Võ Chí Công là người thường xuyên lui tới gia đình nhiều nhất, là bạn thân thiết với ông nội. Theo dấu chân ông nội, cha mẹ ông cũng tích cực tham gia cách mạng, nuôi giấu, che chở cán bộ về hoạt động tại vùng đất này; họ sống cùng gia đình ông giống người thân trong nhà. Trong một đoạn hồi ký ông viết: "...ngay gia đình cha tôi, cha tôi tần tảo quanh năm suốt tháng nhưng không kiếm đủ để nuôi gia đình và anh em chúng tôi. Hồi đó, cả nhà tôi đều lo phục vụ cho cán bộ cách mạng, ăn khoai, ăn rau, giành phần cơm để nuôi cán bộ. Có những lần, đồng chí Võ Chí Công cùng với một số cán bộ ngồi ăn cơm, nhìn thấy mâm cơm, lặng thinh không ăn, rồi xuống bếp bưng rá khoai lang luộc lên ngồi ăn với canh dưa cải, san sẻ phần cơm cho gia đình tôi, mỗi người một bát và nói: "Ta chia sẽ cho nhau để sống và làm cách mạng chứ! Có khoai cho chúng tôi ăn đã tốt lắm rồi.!..". Nói đến đó, đồng chí Võ Chí Công không cầm nổi sự xúc động nghẹn ngào...".

Từ trong môi trường sống gia đình- ông nội, cha và các cô, chú của ông đều tham gia hoạt động cách mạng; lại thường xuyên nghe người thân trong gia đình kể về các đồng chí hoạt động cách mạng, nhất là những câu chuyện kể về đồng chí Võ Chí Công, trở thành tấm gương sáng để ông noi theo. Thêm vào đó, chứng kiến sự tàn bạo của kẻ thù ngày càng tăng theo cấp số nhân, chúng áp bức, lóc lột nhân dân bằng mọi thủ đoạn; tất cả tác động mạnh mẽ đến nhận thức của ông, từ rất sớm ông đã giác ngộ cách mạng, không có con đường nào khác, chỉ có đi theo cách mạng, làm cách mạng thì mới giúp dân, giúp gia đình và giúp chính bản thân mình thoát khổ. Ông viết: "Khi tôi lớn lên, tôi thấy rất nhiều cảnh áp bức bóc lột của quân giặc trên quê hương mình, thấy ông cha mình khổ quá. Tôi thấy rằng, chỉ có con đường cách mạng mới giải thoát được cái khổ, cái áp bức bóc lột của kẻ thù. Chính vì vậy nên tôi hoạt động cách mạng thôi. Thấy ông cha mình như vậy, tôi cũng rất là tích được đi làm cách mạng". Từ nhận thức đó ông bén duyên với cách mạng.

Dấn thân vào cuộc đời "binh nghiệp"

Năm 1955, ông chính thức tham gia hoạt động cách mạng với nhiệm vụ làm giao liên; đến năm 1960 ông thoát ly và tham gia vào lực lượng quân giải phóng miền Nam , hoạt động trong trạm huấn luyện của tỉnh, gọi là H2, được gần 2 tháng thì về huyện Tam Kỳ tham để xây dựng lực lượng vũ trang; được giao nhiệm vụ chính là xây dựng lực lượng vũ trang chính trị, nhằm tập trung tuyên truyền diệt ác phá kèm.

Thực hiện nhiệm vụ, ông luôn bám sát chỉ đạo của cấp trên phải dựa vào dân, xem dân là gốc, phải làm sao để xây dựng được cơ sở để thúc đẩy phong trào cách mạng đi lên; học tập về chính sách binh địch vận để có những hình thức tuyên truyền, vận động phù hợp đối với dân vệ và binh lính phía địch. Trong thời gian này tuyên truyền vũ trang chính trị, ông đã bắt và diệt được 3 tên ác ôn, phối hợp chuẩn bị các điều kiện để giải phóng thôn Phú Mỹ cuối tháng 8 năm 1961. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ ở đây, ông được phân về xã Kỳ Liên , tiếp tục gây dựng cơ sở và hoạt động cách mạng. Đây là vùng trắng cơ sở, để hỗ trợ ông trong thực hiện nhiệm vụ,Quân khu bổ sung thêm 3 đặc công để thành lập Đội công tác liên xã- xã Kỳ Liên và Kỳ Xuân, tiếp tục đi tuyên truyền ở các thôn, phát triển cơ sở cách mạng.

Với sự tích cực của đội công tác tuyên truyền, cơ sở cách mạng dần được gây dựng nhiều hơn; năm 1962, ông đã cùng với cán bộ và du kích, đội công tác xã Kỳ Trà tiến hành diệt ác, phá kèm, phát động quần chúng nổi dậy giải phóng thôn 6 và thôn 7 xã Kỳ Trà và thành lập chính quyền tự quản ở hai thôn nói trên. Sau hai ngày, địch lại sử dụng đại đội biệt kích đã được củng cố, hình thành hai mũi tấn công vào thôn 6 và thôn 7 nhằm đánh bật lực lượng của ta ra ngoài. Lực lượng của ta lúc này còn nhỏ lẻ, lại phân tán đi nhiều hướng để đánh ngăn chặn địch phản kích từ nhiều hướng; mặt khác, đi phát động quần chúng để hình thành các tổ chức cách mạng trong vùng mới giải phóng... Chính vì vậy, khi bọn biệt kích phát triển vào làng thì quân ta mới phát hiện ra được. Tuy bị động trước thủ đoạn của chúng, nhưng trong suốt cả tuần quần lộn với chúng, quân ta đánh tiêu hao một bộ phận nhỏ sinh lực địch, diệt và làm bị thương trên 10 tên địch.

Sau trận đánh đó, quân địch rút lui về Tam Kỳ để nghỉ ngơi và củng cố lực lượng. Trong khi đó, bọn tề điệp ngầm nổi lên quậy phá, làm cho tình hình phức tạp thêm. Trước tình hình đó, ta nhận định thế nào bọn biệt kích cũng quay trở lại để đánh phá vùng giải phong Kỳ Trà và có thể đóng đồn bốt và chiếm lại những gì đã mất. Nhận định tình hình, ông đã đề nghị với cấp trên tăng cường thêm cho một đại đội cùng với đội lực lượng vũ trang của huyện, nhằm nghiên cứu để đánh trận phủ đầu vào bọn biệt kích trước khi chúng tổ chức các cuộc càn quét có quy mô lớn. Đề nghị ấy được cấp trên chấp nhận. Sau một thời gian ngắn chuẩn bị, khảo sát lại địa hình, theo dõi chặt chẽ tình hình quân địch. Đại đội thuộc tiểu đoàn 90 cùng với trung đội lực lượng của huyện và du kích xã đã hình thành hai trận địa phục kích ở thôn 6 giáp thôn 7 và thôn 8 xã Kỳ Trà. Trước khi đưa quân vào chiếm lĩnh trận địa, ta đã bắt tên điệp viên của địch và bắn chết y, nhằm hạ thanh thế của địch; đồng thời kích động để bọn biệt kích phản ứng nhanh theo ý định của phía ta. Đúng như vậy, sáng hôm sau, đại đội biệt kích ngụy đã phản ứng ngay, nhưng chúng đi không theo một quy luật nào nên ý định của ta không thực hiện được.

Nhận lệnh của cấp trên, ông dẫn tiểu đội trinh sát bám theo nắm tình hình quân địch; đội trinh sát chia 3 hướng bám địch, bám theo suối, vượt qua rừng, đã đến được chân Đồi Tranh. Sau khi đã tiếp cận được với mục tiêu, quyết định tập kích tiêu diệt đội biệt kích vào lúc 12 giờ trưa. Dưới ánh nắng rát của mùa hè, 140 cán bộ chiến sỹ được cài lá ngụy trang màu xanh bước đi với khí thế hăng hái tiến công. Tiểu đội của ông đi giáp liền với mũi tấn công chủ yếu; do thạo địa hình, đúng 12 giờ, quân ta đã chiếm được trận địa. Đến 12 giờ 20 phút, các mũi tấn công từ các phía nhả đạn liên tục vào quân địch. Bọn ngoan cố thì cố chiếm lấy các gốc cây và chống trả điên cuồng. Nhưng trước sức tấn công như vũ bão của quân ta, các điểm kháng cự của quân địch đã bị dập tắt. Khắp cả Đồi Tranh, địch chết nằm rải rác khắp nơi. Chỉ trong vòng hơn 1 tiếng đồng hồ chiến đấu, quân ta đã tiến công đánh và tiêu diệt, bắt sống gọn đại đội biệt kích trên 100 tên, thu toàn bộ vũ khí, quân trang, quân dụng của chúng ở Đồi Tranh. Chiến thắng đã làm nức lòng của nhân dân nơi đây, đồng thời để lại những kinh nghiệm quý trong tấn công và tiêu diệt địch của lực lượng vũ trang. Chiến thắng Đồi Tranh thôn 7, Kỳ Trà đánh dấu quan trọng trong cuộc đời chiến đấu của ông. Sau chiến thắng tại Đồi Tranh, Kỳ Trà, ông tiếp tục tham gia hoạt động chiến đấu ở các xã phía Nam huyện Tam Kỳ thêm một thời gian, phối hợp với đồng đội trực tiếp tiêu diệt nhiều tên ác ôn khét tiếng của ngụy quân.

Sau khi cơ bản hoàn thành nhiệm vụ ở các xã cánh Nam của huyện Tam Kỳ, ông tiếp tục nhận nhiệm vụ tiếp cận địch làm công tác tuyên truyền ở phía Bắc huyện Tam Kỳ . Đến cuối năm 1962, trên cương vị trung đội phó, ông đã chỉ huy trung đội giải phóng thôn Ngọc Tú thuộc xã Kỳ Long và thành lập chính quyền cách mạng. Sau đó, tiếp tục giải phóng thôn 7, thôn 6 và thôn 5 của xã Kỳ Quế . Đầu tháng 3, năm 1962, tiểu đội của ông đã tạo được uy lực nhất định, tiếp tục giải phóng Lâm Môn, xã Kỳ Quý ; các vùng giải phóng của ta dần mở rộng. Đầu năm 1963, trung đội của ông tiếp tục tập kích đánh vào hội đồng Cây Sanh, ấp chiến lược Long Sơn, Kỳ Tân, giải phóng hai thôn này. Sau khi giành thắng lợi được ở nhiều nơi, trung đội của ông tiếp tục đi tuyên tuyền nhiều nơi để gây dựng cơ sở, diệt các phá kèm, mở rộng vùng giải phóng ở xã Kỳ Nghĩa, Kỳ An, Kỳ Quý.

Năm 1964, địch tăng cường lực lượng, mở các cuộc càn quét lớn vào vùng giải phóng của ta. Quân số đông và được trang bị vũ khí hiện, xe tăng, xe bọc thép, cùng với bom mìn... Địch tiến công và tổ chức đóng chốt hết các cứ điểm cao và đóng đồn. Tình hình đó, tạo cho ta rất nhiều khó khăn; vì quân ta chủ yếu là tổ chức đánh du kích, vì lực lượng rất mỏng mà vũ khí lại thô sơ. Nhưng với tinh thần quả cảm, quyết chiến đấu đến cùng, ông cùng đồng đội đã tiêu diệt được một số lượng lớn quân địch; thậm chí, có chiến sĩ của ông một mình mà bắn chết tới 49 tên địch, cách từ 400 đến 500m. Cùng với thắng lợi đó, thực hiện chủ trương của cấp trên, ông cùng đồng đội tập trung lực lượng, chuẩn bị tinh thần để tấn công giải phóng nông thôn đồng bằng, trước hết là vùng Đông Tam Kỳ. Tháng 7 năm 1964, ông cùng 7 đồng đội về bám trụ ở vùng Đông để thực hiện mục tiêu giải phóng vùng này. Nhận định tình hình địch ở đây đang trong thế yếu, bám diệt đầu tiên là tên thôn trưởng Thạch Tân, giải phóng thôn Thạch Tân, xã Kỳ Anh. Sau đó, tập kích và đánh vào hội đồng diệt được khoảng 30 tên, giải phóng hoàn toàn xã Kỳ Anh và 5 thôn của xã Kỳ Phú thuộc thị xã Tam Kỳ.

Sau khi hoàn thành nhiệm vụ ở vùng Đông, năm 1965, Đại đội V12 của huyện Bắc Tam Kỳ được thành lập, ông được cấp trên cử về lại huyện Bắc Tam Kỳ và làm Đại đội phó V12; đánh dấu bước ngoặt cuộc đời hoạt động cách mạng của ông. Trên cương vị của người chỉ huy, ông tập trung củng cố, xây dựng lực lượng Đại đội V12 vững mạnh; để khi cần thiết, V12 vừa phân tán lực lượng, linh hoạt hỗ trợ cho phong trào chiến tranh du kích, thực hiện những trận đánh lớn của huyện, tập trung vào các ấp chiến lược của địch ở vùng sau Tam Kỳ. Tháng 10 năm 1965, địch tập trung quân nhằm càn quét lấn chiếm vùng giải phóng và đóng đồn bốt; lấn chiếm vùng Kỳ Thịnh, đánh trụ sở của ta ở đó. Trước tình hình đó, Đại đội V12 tập kích và tổ chức tiêu diệt đồn dân vệ. Đây là trận đánh công sự đầu tiên của V12. Đối với đồn lớn thì ông chủ trương dùng hỏa lực và pháo kích nhằm đẩy địch bức rút và tháo chạy, còn đồn nhỏ thì hai trung đội của V12 tập kích tiêu diệt. Đại đội V12 hình thành hai mũi tấn công, một mũi do ông trực tiếp chỉ huy, còn mũi tiến công phía tây thì do một trung đội khác chỉ huy và các đội dự bị cùng tham gia. Khoảng chừng hai mươi phút sau, mũi tiến công do ông chỉ huy đã chiếm được lô cốt đầu tiên. Ở các mũi tiến công khác trong cùng thời gian đó cũng nổ súng tấn công đồng loạt.Sau gần một tiếng đồng hồ thì chiếm được hoàn toàn đồi Trà Cai. Đây cũng là trận đầu tiên của Đại đội V12 sau khi được thành lập và đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của cấp trên giao. Sau trận đánh này, Đại đội V12 trưởng thành hơn, có thêm kinh nghiệm trong chiến đấu, trở thành lực lượng chủ yếu trong tác chiến phối hợp đánh các trận lớn mang tính quyết định lịch sử sau này, nhiều trận đánh liên tiếp trên vùng đất huyện Bắc Tam Kỳ đều mang dấu ấn của Đại đội V12.

Dưới sự chỉ huy của ông, V12 đã tổ chức đánh rất nhiều trận, có những trận đánh độc lập cũng có những trận phối hợp với Tiểu đoàn 70, 72 của tỉnh, Đại đội V18 của thị xã Tam Kỳ... làm nên những chiến công vang dội, gây cho địch hoang mang; tiêu biểu như các trận ở Khánh Thọ, tiêu diệt cả gọn cả một đại đội của địch, diệt một đại đội Bảo An của địch ở cầu bà Dụ, bà Được, đánh địch ở đồi Tây Yên, Trà Vu... vào những năm 1966, 1967. Với những chiến công của mình, năm 1967 Đại đội V12 đã được phong tặng danh hiệu anh hùng.

Bí thư Huyện ủy Bắc Tam Kỳ

Trên mọi cương vị, vị trí công tác, ông đều thể hiện sự mưu trí, gan dạ, dũng cảm và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà Đảng giao phó, dù là chiến sĩ giao liên, hay Đại đội phó V12, Huyện đội trưởng huyện Bắc Tam Kỳ. Ghi nhận sự đóng góp của ông, tháng 2/1968 ông được bầu làm Phó Bí thư và đến tháng 9 năm đó được bầu làm Bí thư Huyện ủy Bắc Tam Kỳ; đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong cuộc đời hoạt động cách mạng của ông. Mục đích hoạt động cách mạng của ông là vì dân mong cho dân bớt đi những đau khổ, quê hương bớt đi những tang thương mất mát; không phải vì làm quan cách mạng. Chính vì lẽ sống đó, mà trên cương vị là người giữ vị trí cao nhất của huyện, ông vẫn tiếp tục theo chí hướng của mình, cùng đồng đội xong pha trận mạc, đánh những trận đánh lớn mang tính quyết định đến vận mệnh của quê hương.

image001 copy copy copy copy copy

Ảnh tư liệu: Đồng chí Lương Văn Hận (bên trái) trong lần gặp gỡ đồng đội

Nắm bắt, phân tích tình hình của địch vào những năm 1969-1970, ông tập trung lãnh đạo nhân dân đấu tranh chống địch thực hiện âm mưu "gom dân lập ấp chiến lược" và "khủng bố trắng";tổ chức phát triển các cơ sở cách mạng trong vùng địch lấn chiếm nhằm xây dựng lực lượng để chống địch càn quét. Cuối năm 1970, do vết thương cũ tái phát nhiều lần, ông được cấp trên cử ra Bắc điều trị bệnh; đến năm 1973 trở về và tiếp tục giữ cương vị Bí thư Huyện ủy Bắc Tam Kỳ. Đây cũng là giai đoạn rất ác liệt, quân địch tổ chức chiếm lại vùng giải phóng đã bị mất trước đó và khôi phục lại chiến trường. Chúng đánh theo kiểu "vết dầu loang" đánh từ đồn này phát triển rộng ra các đồn khác để tăng cường thêm vùng chiếm đóng. Tình hình như vậy, gây cho ta rất nhiều khó khăn. Vì quân địch được tăng cường lực lượng quân và trang bị vũ khí ngày càng hiện đại hơn; còn phía chúng ta vũ khí đạn dược rất ít. Trong điều kiện như vậy, dưới sự lãnh đạo của Huyện uỷ, ta tổ chức những trận đánh vào cứ điểm của địch, đồng thời hết sức phòng ngự và bảo vệ vùng giải phóng.

Đến cuối năm 1973, ông tổ chức lực lượng V12 tấn công vùng Kỳ Thịnh, tiếp theo tấn công đồi Ông Vĩnh, diệt gọn một trung đội của địch. Đến năm 1974, tỉnh đội Quảng Nam quyết định mở chiến dịch Đông- Xuân, đánh và tiêu diệt đồi Gò Gai, đồn Rừng Nhưng;trận đánh này quân ta giành thắng lợi, tạo thế và lực cho ta trên chiến trường Quảng Nam. Thời cơ giải phóng quê hương đã đến. Nhận lệnh của cấp trên, ông đã cùng các cánh quân lực lượng Đại đội V12 phối hợp với lực lượng ở các hướng khác kéo về tấn công giải phóng Tam Kỳ ngày 24 tháng 3 năm 1975; góp phần quan quan trọng để tổng tấn công và nổi dậy mùa Xuân 1975 giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

image003 copy

Chiến tranh kết thúc, ông được Đảng và Nhà nước giao giữ nhiều trọng trách quan trọng- Trưởng ban Dân vận Tỉnh ủy Quảng Nam, Chủ tịch Mặt trận tỉnh Quảng Nam- Đà Nẵng; được trao tặng Huy hiệu 40 năm tuổi Đảng; Huân chương Độc lập hạng II; Huân chương Kháng chiến hạng I; Huân chương Chiến công giải phóng hạng III; Huân chương Chiến sỹ giải phóng hạng I; Huân chương Giải phóng hạng I, hạng III; Huân chương Quyết thắng hạng I và nhiều phần thưởng cao quý khác.

Khép lại những dòng hồi ký ấy, trong tôi dần hiểu ra. Chiến tranh là gì, vì sao một đất nước như đất nước ta lại có thể đánh và thắng kẻ thù lớn mạnh gấp ngàn lần; chính là vì có những con người như ông- đồng chí Lương Văn Hận- Chiến sĩ cộng sản kiên trung- người Bí thư Huyện ủy Bắc Tam kỳ năm xưa ấy; dù trên ngực áo không quá nhiều huân huy chương nhưng để lại trong lòng người dân huyện Bắc Tam Kỳ năm xưa, người dân Tam Giang quê ông hàng trăm huân huy chương về tinh thần thép, sự quả cảm của người chiến sĩ cách mạng. Bài viết như nén hương thơm tri ân những cống hiến của ông trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng quê hương.

Nguyễn Thị Thùy- Ban Tuyên giáo Huyện ủy Phú Ninh

Phuninh.gov.vn
Phú Ninh Đất và Người